Logo
KTTV LÀO CAI
Trang chủ Bản đồ thời tiết, thiên tai Kỹ năng PCTT-TKCN Báo cáo thiệt hại Chia sẻ thông tin thiên tai Liên hệ Hỏi đáp Đăng nhập
THÔNG BÁO
Hệ thống đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện — Thời gian thực hiện từ tháng 1/2026 đến 06/2027    ·    Hệ thống đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện — Thời gian thực hiện từ tháng 1/2026 đến 06/2027
Mục lục
Trang chủ Kỹ năng PCTT-TKCN BÁO CÁO TỔNG KẾT Công tác phòng, chống thiên tai năm 20...
Kỹ năng PCTT-TKCN #kỹ năng phòng chống thiên tai

Báo cáo tổng kết công tác phòng, chống thiên tai năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 trên địa bàn tỉnh lào cai

BB
Ban biên tập
VPTT BCH PCTT & TKCN
01/06/2026 · 15:27
f
BÁO CÁO TỔNG KẾT Công tác phòng, chống thiên tai năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Tóm tắt: TỔNG KẾT Công tác phòng, chống thiên tai năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 trên địa bàn tỉnh Lào Cai

I. TÌNH HÌNH THỜI TIẾT, THỦY VĂN NĂM 2025

1. Khí tượng

1.1. Bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ)

Năm 2025 có 05 ATNĐ và 15 cơn bão trên Biển Đông trong đó có hoàn lưu của 5 cơn bão gây ảnh hưởng đến thời tiết tỉnh Lào Cai là: bão số 3 (WIPHA), bão số 5 (KAJIKI), bão số 9 (RASAGA), bão số 10 (BUALOI), bão số 11 (MATMO).

- Bão số 3 (WIPHA): Ngày 16/7, vùng áp thấp trên khu vực gần Biển Đông mạnh lên thành ATNĐ, đến sáng ngày 18/7 ATNĐ mạnh lên thành bão (tên quốc tế là WIPHA), Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 8, giật cấp 10, di chuyển chậm theo hướng Tây Tây Bắc. Sáng 19/7, bão WIPHA đi vào vùng biển phía Đông Bắc của khu vực Bắc Biển Đông trở thành cơn bão số 3 trong năm 2025; sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 9, giật cấp 11; di chuyển theo hướng Tây Bắc với tốc độ khoảng 20km/h. Trưa 22/7, tâm bão số 3 đã đi vào khu vực đất liền các tỉnh Hưng Yên-Ninh Bình. Chiều tối 22/7, sau khi đi sâu vào đất liền khu vực Ninh Bình-Thanh Hoá bão số 3 đã suy yếu thành ATNĐ. Đêm qua 22/7, ATNĐ đã suy yếu thành một vùng áp thấp trên khu vực biên giới Việt Nam - Lào. Hoàn lưu bão số 3 gây ra đợt mưa lớn trên khu vực tỉnh Lào Cai.

- Bão số 5 (KAJIKI): Tối ngày 22/8, một ATNĐ hoạt động trên khu vực phía Đông đảo Lu-Dông (Philippin) đi vào vùng biển phía Đông khu vực Bắc Biển Đông. Sáng ngày 23/8, ATNĐ mạnh lên thành bão-cơn bão số 5 (tên quốc tế là KAJIKI), cường độ mạnh cấp 8, giật cấp 10 với hướng và tốc độ di chuyển ít thay đổi. Sau khi mạnh lên thành bão, cường độ bão liên tục mạnh thêm. Chiều tối ngày 24/8, khi di chuyển đến khu vực phía Tây Bắc đặc khu Hoàng Sa cường độ bão tăng lên cấp 14, giật cấp 16 và tốc độ di chuyển chậm lại theo hướng Tây Tây Bắc với tốc độ 15-20km/h. Trưa ngày 25/8, bão di chuyển vào vùng biển ven bờ khu vực Nghệ An-Hà Tĩnh, cường độ bão giảm xuống cấp 13, giật cấp 15. Sau đó bão tiếp tục di chuyển chậm lại và lệch về phía Nam, cường độ bão giảm xuống cấp 11-12, giật cấp 14. Chiều tối ngày 25/8, bão số 5 đi vào đất liền khu vực Nam Nghệ An-Bắc Hà Tĩnh, cường độ bão giảm xuống cấp 10-11, giật cấp 13, di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc với tốc độ khoảng 10-15km/h. Hoàn lưu xa sau bão số 5 đã gây ra 1 đợt mưa vừa, mưa to đến rất to cho khu vực tỉnh Lào Cai.

- Bão số 9 (RASAGA): Sáng sớm ngày 23/9, siêu bão Rasaga đã vượt qua khu vực phía Bắc đảo Lu dông (Philippin) đi vùng biển phía Đông Bắc của khu vực Bắc Biển Đông. Hồi 04 giờ ngày 23/9, vị trí tâm siêu bão ở vào khoảng 19,8 độ Vĩ Bắc; 118,8 độ Kinh Đông; sức gió mạnh nhất vùng gần tâm siêu bão mạnh cấp 17, giật trên cấp 17; di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc với tốc độ khoảng 20km/h. Sau khi đi vào Biển Đông, bão số 9 có cường độ ổn định sau suy yếu dần. Hồi 07 giờ ngày 25/9, vị trí tâm bão ở vào khoảng 21,5 độ Vĩ Bắc; 108,9 độ Kinh Đông, cách Móng Cái (Quảng Ninh) khoảng 100km về phía Đông, sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 8, giật cấp 10. Sau khi đi vào vùng biển Quảng Ninh bão số 9 đã suy yếu thành ATNĐ. Chiều (25/9), ATNĐ suy yếu thành một vùng áp thấp trên khu vực Quảng Ninh. Do ảnh hưởng hoàn lưu bão số 9 ngày 25/9 tỉnh Lào Cai có mưa, mưa rào và dông.

- Bão số 10 (BUALOI): Tối ngày 26/9, bão BUALOI đã đi vào vùng biển phía Đông của khu vực giữa Biển Đông và trở thành cơn bão số 10 trong năm 2025. Hồi 19 giờ, vị trí tâm bão ở vào khoảng 13,1 độ Vĩ Bắc; 119,7 độ Kinh Đông, cách đặc khu Hoàng Sa khoảng 900km về phía Đông Nam, sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 11-12 (103-133km/giờ), giật cấp 15, di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc với tốc độ 30-35km/h. Đến 07 giờ ngày 28/9, vị trí tâm bão ở vào khoảng 16,6 độ Vĩ Bắc; 109,5 độ Kinh Đông, trên vùng biển Quảng Trị-Tp. Đà Nẵng, cách Tp. Huế khoảng 170km về phía Đông; sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 12 (118-133km/giờ), giật cấp 15; di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc với tốc độ 30km/h. Đêm 28/9, bão số 10 đi vào địa phận Hà Tĩnh-Bắc Quảng Trị. Hồi 01 giờ ngày 29/9, vị trí tâm bão ở vào khoảng 18,2 độ Vĩ Bắc; 106,2 độ Kinh Đông, trên đất liền ven biển tỉnh Hà Tĩnh. Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 11 (103-117km/giờ), giật cấp 14, di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc, tốc độ 20-25km/h, cường độ bão suy yếu dần. Trưa ngày 29/9, bão số 10 di chuyển sang khu vực Thượng Lào, suy yếu thành ATNĐ, sau thành vùng thấp và tan dần. Do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 10, sau ảnh hưởng của hoàn lưu vùng áp thấp suy yếu từ bão số 10 kết hợp với hội tụ gió lên đến 5000m hoạt động mạnh, từ trưa ngày 28/9 đến ngày 01/10 tỉnh Lào Cai đã có mưa to đến rất to và dông.

- Bão số 11 (MATMO): Chiều ngày 03/10, bão MATMO đã vượt qua đảo Lu Dông (Philippine) đi vào vùng biển phía Đông khu vực Bắc Biển Đông trở thành cơn bão số 11 năm 2025. Hồi 17 giờ ngày 03/10, vị trí tâm bão ở vào khoảng 17,0 độ Vĩ Bắc; 120,0 độ Kinh Đông, trên vùng biển phía Đông khu vực Bắc Biển Đông, sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 10 (89-102km/giờ), giật cấp 13, di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc, tốc độ khoảng 25km/h và tiếp tục mạnh thêm. Tối ngày 05/10, bão số 11 đã đi vào vùng biển phía Đông Bắc của Bắc vịnh Bắc Bộ, hồi 19 giờ vị trí tâm bão ở vào khoảng 21,2 độ Vĩ Bắc; 109,5 độ Kinh Đông, cách Móng Cái (Quảng Ninh) khoảng 190km về phía Đông Đông Nam. Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 11-12 (103-133km/giờ), giật cấp 15, di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc, tốc độ khoảng 20km/h và suy yếu dần. Sáng sớm ngày 06/10, bão số 11 đã đi vào đất liền khu vực Phòng Thành của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), hồi 04 giờ ngày 06/10, vị trí tâm bão ở vào khoảng 22,0 độ Vĩ Bắc; 107,6 độ Kinh Đông, trên khu vực phía Nam tỉnh Quảng Tây, sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 8 (62-74km/giờ), giật cấp 10, di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc, tốc độ khoảng 20km/h. Sáng ngày 06/10, sau khi đi sâu vào đất liền tỉnh Quảng Tây, bão số 11 đã suy yếu thành ATNĐ. Trưa ngày 06/10, ATNĐ đã suy yếu thành một vùng áp thấp trên khu vực biên giới Lạng Sơn (Việt Nam) và phía Nam tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Do ảnh hưởng của hoàn lưu vùng áp thấp suy yếu từ bão số 11 kết hợp với hội tụ gió lên đến 5000m hoạt động mạnh, từ đêm ngày 06 đến sáng ngày 08/10 tỉnh Lào Cai đã có mưa vừa, mưa to đến rất to và dông.

1.2. Nhiệt độ, nắng nóng

a) Nhiệt độ:

Nhiệt độ trung bình vùng thấp phổ biến từ 23,1 - 24,6oC; vùng cao 18,9 - 20,2oC; vùng núi cao 16,2oC; xấp xỉ và xấp xỉ cao hơn so với giá trị trung bình nhiều năm cùng kỳ (TBNN) thấp hơn từ 0,7 - 2,7oC so với giá trị cùng thời kỳ năm trước (CKNT). Nhiệt độ thấp nhất 1,4oC; nhiệt độ cao nhất 39,4oC.

b) Nắng nóng:

 Khu vực vùng thấp của tỉnh xảy ra 5 đợt nắng nóng trên diện rộng, trong đó có những ngày nắng nóng gay gắt đến đặc biệt gay gắt. Nhiệt độ cao nhất trong năm là 39.4oC (tại trạm Lào Cai ngày 20/7). Ngoài ra còn một số đợt nắng nóng cục bộ và một số ngày nắng nóng diện rộng nhưng chưa thành đợt.

+ Đợt 01: Từ ngày 01 - 02/6 do ảnh hưởng của rìa phía Đông Nam vùng áp thấp nóng phía Tây phát triển và mở rộng về phía Đông Nam nên tỉnh Lào Cai xảy ra nắng nóng và nắng nóng đặc biệt gay gắt. Nhiệt độ cao nhất từ 37.4 - 39.2oC. 

+ Đợt 02: Từ ngày 13 - 15/6 do ảnh hưởng của rìa phía Đông Nam vùng áp thấp nóng phía Tây phát triển và mở rộng về phía Đông Nam nên khu vực tỉnh Lào Cai xảy ra nắng nóng trên diện rộng, có ngày nắng nóng gay gắt. Nhiệt độ cao nhất từ 35.8 – 37.7oC. 

+ Đợt 03: Từ ngày 17 - 20/7 do ảnh hưởng của rìa phía Đông Nam vùng áp thấp nóng phía Tây phát triển và mở rộng về phía Đông Nam nên tỉnh Lào Cai xảy ra nắng nóng trên diện rộng có nơi nắng nóng gay gắt đến đặc biệt gay gắt. Nhiệt độ cao nhất từ 37.0 - 39.4oC.

+ Đợt 04: Từ ngày 27 - 30/7 do ảnh hưởng của rìa phía Đông Nam vùng áp thấp nóng phía Tây phát triển và mở rộng về phía Đông Nam nên tỉnh Lào Cai xảy ra nắng nóng và nắng nóng gay gắt trên diện rộng. Nhiệt độ cao nhất từ 35.0 - 38.2oC.  

+ Đợt 05: Từ ngày 03- 04/8 do ảnh hưởng của rìa phía Đông Nam vùng áp thấp nóng phía Tây phát triển và mở rộng về phía Đông nên tỉnh Lào Cai xảy ra nắng nóng và nắng nóng gay gắt trên diện rộng. Nhiệt độ cao nhất từ 36.2 - 38.6oC. 

1.3. Không khí lạnh (KKL) và rét đậm rét hại (RĐRH)

a) Không khí lạnh: xảy ra 22 đợt KKL (kể cả tăng cường), Trong đó mạnh mẽ nhất là đợt ngày 09/01 nhiệt độ thấp nhất vùng thấp phổ biến 6.6-8.2oC, vùng cao và núi cao 1.4-3.2oC;

Tháng 01: Có 03 đợt vào các ngày: 09/01, 14/01 và 26/01

Tháng 02: Có 04 đợt vào các ngày: 03/02; 06/02; 13/02; 24/02

Tháng 3: Có 03 đợt vào các ngày: 05/3, 16/3 và 29/3.

Tháng 4: Có 02 đợt vào ngày 12/4 và ngày 28/4

Tháng 5: Có 02 đợt vào ngày 10/5 và ngày 24/5

Tháng 10: Có 03 đợt vào đêm 19/10, ngày 26/10 và ngày 30/10

Tháng 11: Có 02 đợt vào ngày 18/11 và ngày 25/11

Tháng 12: Có 03 đợt vào ngày 03/12; 13/12 và ngày 25/12

b) Rét đậm rét hại: Xảy ra 02 đợt RĐRH diện rộng; vùng cao xảy ra 8 đợt, vùng núi cao xảy ra 8 đợt (có 01 đợt kéo dài 49 ngày), trong đó:

+ Tháng 01: Xảy ra 02 đợt RĐRH diện rộng từ ngày 11 - 14 và từ ngày 27 - 30; khu vực vùng cao xảy ra 2 đợt vào ngày 04 - 05 và 26 - 30; khu vực vùng núi cao xảy ra 02 đợt kéo dài ngày từ ngày 01 - 23 và từ ngày 25/01 - 13/02 trong đó từ ngày 27-29/01 (trên đỉnh Fansipan và xã Y Tý (Huyện Bát Xát) đã xuất hiện băng giá và mưa tuyết).

+ Tháng 02: Xảy ra 01 RĐRH diện rộng từ ngày 06 - 10; khu vực vùng cao xảy ra đợt từ ngày 03 - 11 ngày 24 - 25; khu vực vùng núi cao xảy ra trong cả tháng 02 (riêng từ ngày 09-10/02 xảy (khu vực vùng núi cao xuất hiện băng giá và sương muối).

+ Tháng 3: Xảy ra 01 đợt vào ngày 30 - 31/3 và nhiều ngày xảy ra RĐRH cục bộ ở vùng cao.

+ Tháng 3: Không xảy ra đợt RĐRH diện rộng nào; khu vực vùng cao xảy ra 03 đợt vào ngày 08 - 09; ngày 17 - 20; ngày 30/3 - 03/4; khu vực vùng núi cao xảy ra 03 đợt vào 06 - 10; ngày 16 - 20 và 30/3 - 03/4.

+ Tháng 10: Không xảy ra RĐRH diện rộng, chỉ xảy ra ở khu vực vùng núi cao 01 đợt từ ngày 24 - 26.

+ Tháng 11: Không xảy ra RĐRH diện rộng, chỉ xảy ra ở khu vực vùng cao với 02 đợt từ 19 - 24 và từ 23/11 - 03/12; vùng núi cao xảy ra 01 đợt từ ngày kéo dài 49 ngày từ 13/11 - 31/12/2025 và sang tháng 01/2026.

+ Tháng 12: Không xảy ra đợt RĐRH nào; khu vực vùng cao xảy ra 02 đợt vào ngày 08 - 10 và ngày 25 - 26; khu vực vùng núi cao xảy ra cả 31 ngày và kéo dài sang tháng 01/2026.

1.4. Lượng mưa, mưa lớn

Lượng mưa phổ biến 1566,5 - 3274,6mm đều cao hơn từ 48,7 - 882,2mm (riêng Mù Cang Chải thấp hơn 97,9mm) so với trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước (riêng Phố Ràng, Bắc Hà, Yên Bái, Nghĩa Lộ, Mù Cang Chải thấp hơn từ 13,6 - 655,8mm).

Xảy ra 11 đợt mưa lớn (tháng 5: 02 đợt mưa lớn; tháng 6: 02 đợt mưa lớn; tháng 7: 03 đợt mưa lớn; tháng 8: 01 đợt mưa lớn; tháng 9: 02 đợt mưa lớn; tháng 10: 01 đợt mưa lớn). Ngoài ra, xảy ra một số ngày mưa lớn cục bộ.

Dông lốc, mưa đá: Xảy ra 20 đợt.

2. Thuỷ văn

Năm 2025, các sông suối trên khu vực tỉnh Lào Cai xuất hiện nhiều đợt lũ hơn so với trung bình nhiều năm, trong tháng 5 đã xuất hiện 03 đợt lũ vừa và nhỏ, ngoài ra trên sông Thao còn xuất hiện lũ trái mùa vào đầu tháng 11. Mực nước trung bình các tháng mùa lũ trên các sông suối cơ bản đều lớn hơn trung bình nhiều năm.

Đăc biệt tháng 9, trên sông Thao tại trạm Lào Cai, trạm Bảo Hà và trạm Yên Bái đã xuất hiện 02 đợt lũ nhỏ và lớn; biên độ lũ lên trên sông Thao tại trạm Lào Cai, trạm Bảo Hà và trạm Yên Bái từ 1,20 – 7,82m. Mực nước đỉnh lũ cao nhất trên sông Thao tại trạm Lào Cai là 83,44m ( dưới BĐ3: 0.06m) lúc 04h/30/9; tại trạm Bảo Hà là 60,48m (trên BĐ3: 3,48m) lúc 08h/30/9; tại trạm Yên Bái là 34,39m (trên BĐ3: 2,39m) lúc 11h/30/9.

Trên sông Chảy tại trạm Bảo Yên xuất hiện 02 đợt lũ nhỏ và lớn, với biên độ lũ lên từ 2,69 - 7,56m, mực nước đỉnh lũ cao nhất tại trạm Bảo Yên là 84,46m lúc 10h/30/9. Tại trạm Thác Bà mực nước dao động theo điều của thuỷ điện Thác Bà, vao những ngày cuối tháng mực nước tại trạm Thác Bà lên cao do điều tiết xả lũ của thủy điện Thác Bà.

Trên sông Ngòi Nhù, sông Nghĩa Đô, sông Ngòi Hút, sông Nậm Kim, sông Ngòi Thia xuất hiện 1-3 đợt lũ nhỏ và lớn, với biên độ lũ lên từ 1,59 – 8,36m. Mực nước đỉnh lũ cao nhất trên sông Ngòi Hút là 56,60m (trên BĐ3: 2,10m) lúc 00h/30/9; trên sông Nậm Kim là 939,86m (dưới BĐ3 0,14m) lúc 17h/29/9; trên sông Ngòi Thia là 48,56m (trên BĐ3: 2,06m) lúc 20h/29/9; trên sông Ngòi Nhù  là 92,40m (trên BĐ3: 1,90m) lúc 06h/30/9, trên sông Nghĩa Đô  là 131,00m (ở mức trên BĐ1) lúc 10h/09/9.

Bảng mực nước cao nhất, thấp nhất năm 2025 trên các sông

TT

Sông

Trạm

Hmax (cm)

Ngày

xuất hiện

Hmin (cm)

Ngày

xuất hiện

1

Chảy

Bảo Yên

8446

30/9

7545

20/4

2

Thao

Lào Cai

8344

30/9

7566

29/3

3

Bảo Hà

6048

30/9

4957

03/4

4

Yên Bái

3439

30/9

2325

30/12

5

Nghĩa Đô

Vĩnh Yên

13100

9/9

12754

12/4

6

Ngòi Nhù

Ngòi Nhù

9240

30/9

8459

22/3

7

Ngòi Hút

Ngòi Hút

5660

30/9

5069

9/4

8

Ngòi Thia

Ngòi Thia

4856

29/9

3882

14/11

9

Chảy

Thác Bà

2357

02/10

1167

28/1

10

Nậm Kim

Mù Cang Chải

93997

26/8

93691

23/4

 

II. TÌNH HÌNH THIÊN TAI, THIỆT HẠI VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH LÀO CAI TRONG NĂM 2025

Trong năm 2025, diễn biến thời tiết và thiên tai trên địa bàn tỉnh Lào Cai phức tạp, khó lường, có nhiều yếu tố cực đoan. Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 25 đợt thiên tai (chủ yếu do mưa lũ và rét đậm, rét hại), đã gây thiệt hại về người, tài sản, sản xuất và cơ sở hạ tầng, tác động lớn đến đời sống dân sinh và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương[1]. Ước tổng giá trị thiệt hại trên 2.821 tỷ đồng.

(Kèm theo Biểu số 01/TKTH, biểu số 06/TKTH của Thông tư liên tịch số 43/2015TTLT-BNNPTNT-BKHĐT ngày 23/11/2015 của Bộ Nông nghiệp và PTNT và Bộ Kế hoạch và đầu tư)

III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI NĂM 2025

1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo

1.1. Cp tnh

Công tác phòng, chng thiên tai và tìm kiếm cu nn (PCTT-TKCN) luôn được s quan tâm ch đạo sát sao, trc tiếp ca Tnh y, Hi đồng nhân dân, y ban nhân dân tnh; s ch đạo giúp đỡ ca Chính ph, Ban ch đạo Trung ương v Phòng, chng thiên tai và các cơ quan B, ngành liên quan; các cp, các ngành, các đoàn th trong tnh chú trng, thường xuyên quan tâm xây dng kế hoch, ch đạo t chc thc hin trên mi địa bàn, mi lĩnh vc trong phòng nga, phòng tránh, ng phó, khc phc hu qu nhm an toàn, n định và phát trin bn vng kinh tế - xã hi, an ninh quc phòng, c th:

- Để thc hin có hiu qu công tác PCTT-TKCN năm 2025 Tnh y, y ban nhân dân tnh đã thường xuyên ban hành các văn bn lãnh đạo, ch đạo công tác phòng chng, khc phc hu qu thiên tai, ban hành Ch th[2], t chc Hội nghị tng kết công tác PCTT-TKCN năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025 vào ngày 20/5/2025.

- Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 11 công điện và nhiều văn bản chỉ đạo về công tác phòng chống thiên tai.

- Thường trực phòng chống thiên tai - Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh đã bố trí trực ban với chế độ 24/24 giờ, phối hợp thường xuyên với Đài Khí tượng Thuỷ văn tỉnh, các trạm đo mưa ở các xã, đặc biệt là các xã vùng trọng điểm lũ quét và sạt lở đất, để kịp thời cảnh báo và đề ra các giải pháp phòng, chống tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo kịp thời.

1.2. Cp

- Cng c, kin toàn Ban Ch huy phòng thủ dân sự các xã, phường để thng nht công tác ch đạo, điu hành thc hin nhim v phòng, chng thiên tai. T chc hun luyn s dng thành tho các phương tin, trang thiết b hin có; din tp ng cu sp đổ công trình và tìm kiếm cu nn ti địa bàn trng đim để nâng cao năng lc cho các lc lượng chuyên trách và bán chuyên trách.

- Khi có thiên tai xy ra, cp y Đảng, chính quyn địa phương và các đoàn th đã kp thi đến ch đạo, x lý, khc phc hu qu thiên tai, chia s thit hi vi nhân dân trong vùng b nn, giúp đỡ có hiu qu, đảm bo n định đời sng, an ninh trt t xã hi và môi trường.

- Trong thi gian mưa bão, tiếp tc tuyên truyn nhân dân s dng phương châm 4 ti ch theo Kế hoch đã xây dng để hn chế thit hi thp nht xy ra, ch đạo các đơn v liên quan: Khí tượng thy văn theo dõi tình hình thi tiết, lc lượng vũ trang chun b lc lượng, giao thông đảm bo giao thông, truyn thông đảm bo thông tin liên lc.

2. Công tác phòng ngừa

2.1. Kiện toàn, nâng cao năng lực Ban Chỉ huy, Văn phòng thường trực Ban Chỉ huy PCTT-TKCN các cấp

a) Về nguồn nhân lực: Ủy ban nhân dân tỉnh đã thành lập Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh gồm 30 thành viên do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban; đồng thời phân công nhiệm vụ các thành viên theo Quy chế hoạt động của Ban Chỉ huy và chức năng quản lý nhà nước. Văn phòng thường trực Ban Chỉ huy PCTT-TKCN tỉnh được đặt tại Sở Nông nghiệp và Môi trường, sử dụng biên chế của Sở để thực hiện nhiệm vụ; Chánh Văn phòng thường trực là Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường.

b) Về trang thiết bị: tỉnh Lào Cai đã quan tâm, đầu tư các trang thiết bị phục vụ công tác phòng chống thiên tai[3]. Việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng và thu hồi trang bị, vật tư phục vụ nhiệm vụ được thực hiện theo quy định. Cùng với đó, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đã tiếp nhận, quản lý và sử dụng đầu số tổng đài 112 để tiếp nhận thông tin phòng thủ dân sự trên địa bàn từ ngày 12/8/2025.

2.2. Kết quả triển khai Chỉ thị số 42/CT-TW, Nghị quyết số 76/NQ-CP, Chiến lược quốc gia phòng chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn 2050; Kế hoạch phòng chống thiên tai quốc gia đến năm 2025; Chương trình tổng thể phòng chống thiên tai quốc gia

a) Về Chiến lược quốc gia phòng chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn 2050 theo Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Tỉnh Lào Cai đã ban hành các Kế hoạch[4] để triển khai thực hiện đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.   

b) Về Kế hoạch phòng chống thiên tai quốc gia đến năm 2025 theo Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 15/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ: Tỉnh Lào Cai đã ban hành Văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện[5], trong đó tập trung tuyên truyền, giao nhiệm vụ cụ thể theo chức năng cho các sở, ban, ngành, cơ quan, địa phương của tỉnh; tổ chức thực hiện trên cơ sở kế hoạch phòng chống thiên tai của tỉnh giai đoạn 2021-2025; bố trí và lồng ghép nguồn lực từ ngân sách, Quỹ phòng chống thiên tai và xã hội hóa các nguồn lực để phòng chống thiên tai theo quy định.

c) Về Kế hoạch phòng chống thiên tai giai đoạn 2021-2025 cấp tỉnh: tỉnh đã ban hành các Kế hoạch để triển khai thực hiện[6], đảm bảo đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Cùng với đó, ngày 05/12/2025, UBND tỉnh Lào Cai ban hành Báo cáo số 219/BC-UBND về kết quả thực hiện kế hoạch PCTT quốc gia đến năm 2025 và đề xuất kế hoạch giai đoạn 2026-2030.

d) Về Chương trình tổng thể phòng chống thiên tai quốc gia theo Quyết định số 1651/QĐ-TTg ngày 30/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ: tỉnh cũng đã ban hành các Kế hoạch[7] để triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của địa phương theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.

2.3. Rà soát, cập nhật, bổ sung kế hoạch phòng chống thiên tai, phương án ứng phó theo cấp độ rủi ro thiên tai

Trong năm 2025, tỉnh đã rà soát, liên tục cập nhật, bổ sung kế hoạch phòng chống thiên tai, phương án ứng phó theo cấp độ rủi ro thiên tai trên địa bàn toàn tỉnh, làm căn cứ tổ chức ứng phó với các loại hình thiên tai có thể xảy ra. Các văn bản được xây dựng theo hướng chủ động, sát thực tiễn và phù hợp đặc điểm thiên tai của tỉnh.

2.4. Tổ chức đào tạo, tập huấn, diễn tập; công tác thông tin, truyền thông, tuyên truyền nâng cao nhận thức

a) Đào tạo, huấn luyện, diễn tập: được tỉnh quan tâm, chỉ đạo thực hiện, cụ thể như sau:

- Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tổ chức huấn luyện chuyên ngành cứu hộ - cứu nạn theo kế hoạch; quân số tham gia đạt trên 90%, kết quả kiểm tra đạt khá, đồng thời cử cán bộ tham gia các khóa huấn luyện nâng cao liên quan điều khiển phương tiện thủy nội địa và phối hợp tìm kiếm cứu nạn đường không. Trung đoàn 121 tổ chức diễn tập phòng thủ dân sự, ứng phó bão lụt - tìm kiếm cứu nạn với 324 người tham gia, đạt kết quả xuất sắc.

- Công an tỉnh phối hợp tổ chức huấn luyện nghiệp vụ PCCC và CNCH; tham gia các nội dung huấn luyện kỹ thuật phục vụ ứng phó bão lũ theo kế hoạch của Bộ Công an.

- Sở Giáo dục và Đào tạo triển khai tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng ứng phó thiên tai cho cán bộ, giáo viên và học sinh, lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai vào hoạt động giáo dục.

b) Thông tin, truyền thông, tuyên truyền: Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kiến thức và kỹ năng phòng tránh thiên tai, nâng cao trách nhiệm cộng đồng, thúc đẩy thực hiện phương châm “4 tại chỗ”. Các văn bản chỉ đạo, bản tin cảnh báo được truyền tải kịp thời qua hệ thống truyền thông địa phương, mạng xã hội và các kênh thông tin của cơ quan chuyên môn; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền hưởng ứng Tuần lễ quốc gia phòng chống thiên tai (15–22/5/2025) và ngày truyền thống phòng chống thiên tai Việt Nam (22/5).

c) Kết quả thực hiện Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng: Tỉnh đã ban hành các kế hoạch để triển khai Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày 06/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội nghị tuyên truyền Luật Phòng thủ dân sự và hướng dẫn công tác phòng chống thiên tai năm 2025 cho 98 cán bộ cấp xã trên địa bàn tỉnh.

2.5. Thực hiện phương châm “4 tại chỗ”; gắn cộng đồng an toàn với tiêu chí Phòng chống thiên tai trong xây dựng nông thôn mới; củng cố lực lượng xung kích cấp xã

Đến hết năm 2025, việc triển khai đánh giá tiêu chí an toàn về phòng chống thiên tai trong xây dựng nông thôn mới được chỉ đạo đồng bộ. Cùng với đó, 100% cấp xã đã kiện toàn lực lượng xung kích phòng chống thiên tai theo hướng dẫn của Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia.  

2.6. Công tác quản lý, đầu tư, duy tu, bảo dưỡng, nâng cấp công trình phòng, chống thiên tai

Trong năm 2025, tỉnh đã bố trí vốn đầu tư xây dựng, nâng cấp, sửa chữa 144 công trình thủy lợi và hồ chứa, với tổng kinh phí 115,64 tỷ đồng; đồng thời đầu tư khắc phục khẩn cấp 07 công trình kè chống sạt lở bờ sông, bờ suối, với tổng chiều dài 14.883 m và tổng kinh phí 1.174,27 tỷ đồng; ngoài ra, tỉnh còn đầu tư 06 dự án kè sông suối biên giới, với tổng chiều dài 7.009 m và tổng mức đầu tư là 633,1 tỷ đồng.

2.7. Công tác kiện toàn tổ chức bộ máy, kết quả thu, chi Quỹ phòng, chống thiên tai

Quỹ phòng, chống thiên tai tỉnh Lào Cai được thành lập theo Quyết định số 1106/QĐ-UBND ngày 11/9/2025 của UBND tỉnh Lào Cai.

Lũy kế hết năm 2025: thu Quỹ 147.795 triệu đồng; chi Quỹ 118.008 triệu đồng (Trong đó năm 2025, thu Quỹ đạt 7.210 triệu đồng và chi Quỹ là 16.430 triệu đồng); số dư tại Quỹ hiện là 29.787 triệu đồng.

2.8. Kết quả thực hiện các chương trình, đề án, dự án liên quan đến phòng, chống thiên tai

Tỉnh đã triển khai dự án “Chứng minh thương mại hóa giải pháp phòng ngừa thảm họa sạt lở đất sử dụng chuyển đổi số (DX) tại Việt Nam” do tổ chức JICA và Công ty Okuyama Boring Co.Ltd viện trợ, với tổng kinh phí 40.683.800 Yên Nhật (tương đương 289.183,57 USD; khoảng 7.221 triệu đồng). Dự án thực hiện tại thôn 3 xã Hạnh Phúc và đồi Móng Ngựa xã Mù Cang Chải. Ngày 11/10/2025, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1418/QĐ-UBND phê duyệt văn kiện dự án; theo đó giai đoạn từ tháng 01/2026 - tháng 9/2027 sẽ tập trung lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa và nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm thiên tai.

3. Về ứng phó

3.1. Đánh giá công tác dự báo, cảnh báo thiên tai so với diễn biến thiên tai thực tế tại địa phương

Trong năm 2025, công tác dự báo, cảnh báo thiên tai trên địa bàn tỉnh từng bước được cải thiện, có sự hỗ trợ hiệu quả từ hệ thống quan trắc, giám sát chuyên dùng và các nguồn dữ liệu dịch vụ liên quan. Tỉnh đã khai thác, sử dụng dữ liệu từ 199 trạm đo mưa tự động, 20 trạm khí tượng thủy văn, 03 trạm thời tiết tổng hợp, 01 trạm đo mực nước tự động đặt tại phường Yên Bái và 02 hệ thống cảnh báo sớm sạt lở đất đang thử nghiệm tại xã Mù Cang Chải và xã Hạnh Phúc; đồng thời lắp đặt 63 biển cảnh báo thiên tai tại các khu vực có nguy cơ sạt lở, lũ quét, ngập lụt. Nhìn chung, hệ thống quan trắc đã góp phần hỗ trợ việc ứng phó thiên tai, nâng cao tính kịp thời trong chỉ đạo, điều hành ứng phó, nhất là trong các đợt mưa lũ lớn.

3.2. Công tác thông tin, truyền tải các bản tin cảnh báo, dự báo đến các cấp chính quyền, người dân, cộng đồng để chủ động phòng tránh

Cấp ủy, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh đã chỉ đạo tăng cường truyền thông, kịp thời cung cấp thông tin về diễn biến bão, mưa lũ và các chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh để người dân chủ động phòng tránh. Cơ quan thường trực về phòng, chống thiên tai của tỉnh (Sở Nông nghiệp và Môi trường) đã tổ chức nhắn tin cảnh báo tới chính quyền địa phương với 6.660 lượt tin nhắn SMS và đồng thời đăng tải các bản tin, văn bản chỉ đạo trên các phương tiện truyền thông địa phương, các trang thông tin điện tử và các nền tảng mạng xã hội như Zalo, Facebook, fanpage Thông tin phòng chống thiên tai tỉnh Lào Cai. Nhờ đó, thông tin cảnh báo và chỉ đạo ứng phó được truyền tải nhanh, rộng, góp phần nâng cao hiệu quả triển khai tại cơ sở.

3.3. Công tác chỉ đạo, chỉ huy triển khai các biện pháp ứng phó thiên tai, nhất là đối với các trận thiên tai lớn, cực đoan, vượt giá trị lịch sử

Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và các sở, ngành, địa phương đã chủ động chỉ đạo từ sớm, từ xa, bám sát diễn biến thời tiết, tập trung triển khai đồng bộ các biện pháp ứng phó, nhất là trong các đợt thiên tai lớn. Công tác tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhu yếu phẩm, bảo đảm đời sống Nhân dân được ưu tiên, với yêu cầu không để người dân thiếu đói, màn trời chiếu đất, phát sinh dịch bệnh; đồng thời tổ chức hỗ trợ kinh phí để làm nhà, khôi phục sản xuất, ổn định sinh kế cho người dân bị ảnh hưởng. Các địa phương đã chủ động xây dựng phương án ứng phó theo phương châm “4 tại chỗ”, phối hợp chặt chẽ với lực lượng quân đội, công an, huy động lực lượng và phương tiện để cứu hộ, cứu nạn, hỗ trợ Nhân dân kịp thời khắc phục hậu quả thiên tai. Tăng cường thực hiện các giải pháp bảo đảm an toàn ngập úng, lũ lụt, trọng điểm đê kè, hồ đập xung yếu; tổ chức trực vận hành an toàn, hiệu quả hồ chứa thủy lợi, thủy điện. Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh duy trì theo dõi, phát hành bản tin dự báo, cảnh báo phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo, điều hành.

3.4. Công tác đảm bảo an toàn công trình phòng, chống thiên tai, nhất là đê điều, hồ đập, công trình phòng chống sạt lở

a) Công tác đảm bảo đê điều: Trên địa bàn tỉnh Lào Cai hiện nay có tổng số 24,198 km đê (12 tuyến đê), trong đó có 01 tuyến đê cấp IV dài 3,686 km và 11 tuyến chưa được phân cấp dài 20,512 km, nằm dọc bờ hữu và bờ tả sông Hồng, chống lũ đến mức báo động III. Các công trình đê đã được quan tâm đầu tư, góp phần giảm xói lở bờ sông và nguy cơ ngập lụt; qua kiểm tra, rà soát, các tuyến đê cơ bản bảo đảm yêu cầu phòng chống thiên tai. Công tác quản lý và hộ đê được tỉnh quan tâm, duy trì thường xuyên; trước mùa mưa bão thường tổ chức kiểm tra, đánh giá hiện trạng, phân công trách nhiệm cụ thể cho các lực lượng liên quan.

b) Công tác đảm bảo an toàn hồ đập:

- Trên địa bàn tỉnh có 105 nhà máy thủy điện đã vận hành với tổng công suất 1.768,85 MW; qua kiểm tra cho thấy đa số thực hiện tốt quy định an toàn công trình và phòng, chống thiên tai; 104/105 nhà máy đã xây dựng và được phê duyệt phương án vận hành hồ chứa, liên hồ chứa và phương án phòng chống lụt bão cho vùng hạ du (01 nhà máy Hưng Khánh công suất 0,5 MW không thuộc đối tượng phải thực hiện).

- Đối với hồ chứa thủy lợi, toàn tỉnh có 196 hồ chứa lớn, vừa và nhỏ do Công ty TNHH Tân Phú và UBND các xã quản lý, khai thác; các hồ cơ bản vận hành ổn định, đáp ứng nhiệm vụ cấp nước tưới, tiêu phục vụ sản xuất.

c) Đối với các công trình phòng, chống thiên tai khác: Tỉnh chỉ đạo chủ đầu tư, ban quản lý dự án đầu tư xây dựng phối hợp với UBND các xã tổ chức kiểm tra trước, trong và sau mùa mưa lũ; kịp thời đánh giá hiện trạng an toàn công trình khi có cảnh báo thiên tai, chủ động xử lý hư hỏng; sau mỗi đợt thiên tai thực hiện kiểm tra, tổng hợp, đề xuất phương án sửa chữa, khắc phục. Phần lớn công trình trên địa bàn cơ bản hoạt động ổn định, phát huy hiệu quả.

4. Kết quả huy động và triển khai hoạt động khắc phục hậu quả, phục hồi tái thiết sau thiên tai

4.1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo

Ngay khi xảy ra mưa lũ, Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh và lãnh đạo các sở, ngành đã trực tiếp kiểm tra hiện trường, chỉ đạo địa phương triển khai phương châm “4 tại chỗ”, huy động lực lượng công an, quân đội, dân quân tự vệ và Nhân dân thực hiện tìm kiếm nạn nhân còn mất tích, cứu chữa người bị thương, tổ chức di dời, bố trí tạm cư cho các hộ bị ảnh hưởng bởi ngập úng, sạt lở ra khỏi khu vực nguy hiểm. Tỉnh đồng thời chỉ đạo rà soát, thống kê thiệt hại nhà ở, nhất là đối tượng chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo để tổng hợp, đề xuất hỗ trợ theo quy định; đình hoãn, tạm dừng các hoạt động không thật sự cấp bách để tập trung ứng phó với thiên tai. Đồng thời, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh chủ trì phối hợp tiếp nhận, phân bổ các nguồn lực hỗ trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng.

4.2. Công tác bảo đảm an sinh xã hội

Tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, hỗ trợ người bị thương nặng đang điều trị với mức 05 triệu đồng/người; hỗ trợ gia đình có người chết, mất tích với mức 25 triệu đồng/người. Đối với nhà ở, tỉnh hỗ trợ 100 triệu đồng/hộ đối với nhà sập đổ hoàn toàn và 30 triệu đồng/hộ đối với nhà hư hỏng nặng; đồng thời bố trí lực lượng y tế, thuốc men, vật tư phục vụ khám chữa bệnh tại nơi sơ tán và tại chỗ, cung cấp vật dụng thiết yếu giúp người dân ổn định đời sống. Cùng với đó, triển khai tiếp tục rà soát quỹ đất và bố trí nơi ở mới cho các hộ có nhà bị cuốn trôi, sập hoàn toàn hoặc phải di dời khẩn cấp[8].

4.3. Công tác di dời các hộ bị ảnh hưởng

Đối với 89 hộ có nhà sập đổ hoàn toàn, đến nay đã triển khai dựng nhà cho toàn bộ 89 hộ. Đối với 65 hộ có nhà hư hỏng nặng, đến nay đã sửa chữa xong. Đối với 396 hộ phải di dời khẩn cấp, tỉnh đã bố trí đất và đã hoàn thành làm nhà.

4.4. Công tác khắc phục thiệt hại, khôi phục sản xuất nông nghiệp

Tỉnh đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn các địa phương, người dân triển khai biện pháp kỹ thuật khôi phục sản xuất; đồng thời phối hợp Sở Tài chính và các đơn vị liên quan thống kê thiệt hại, triển khai chính sách hỗ trợ khôi phục sản xuất nông nghiệp theo quy định. Trên cơ sở đánh giá thực tế, Ủy ban nhân dân tỉnh đã quyết định hỗ trợ với tổng kinh phí 112.473 triệu đồng nhằm giúp người dân khôi phục sản xuất, ổn định sinh kế.

4.5. Về kinh phí khắc phục

a) Nguồn dự phòng ngân sách Trung ương: Theo Quyết định số 2171/QĐ-TTg ngày 02/10/2025, tỉnh Lào Cai được giao 200.000 triệu đồng hỗ trợ khắc phục hậu quả bão số 10 và các đợt thiên tai khác. Tỉnh đã chủ động phân bổ để triển khai nhiệm vụ cấp bách, trong đó bổ sung dự toán khắc phục khẩn cấp theo Quyết định số 1349/QĐ-UBND ngày 06/10/2025 với 91.667 triệu đồng và thực hiện Lệnh xây dựng khẩn cấp theo Quyết định số 1424/QĐ-UBND ngày 12/10/2025 với 108.333 triệu đồng. Nguồn vốn được ưu tiên cho hạ tầng thiết yếu và ổn định đời sống Nhân dân.

b) Nguồn dự phòng ngân sách địa phương: đã bố trí 174.792,6 triệu đồng phục vụ khắc phục hậu quả thiên tai và khôi phục hạ tầng.

4.6. Công tác tiếp nhận và thẩm định viện trợ

Tham mưu tiếp nhận nhiều khoản viện trợ quốc tế khẩn cấp để hỗ trợ khắc phục hậu quả do bão YAGI và các đợt thiên tai trong năm, từ các đối tác gồm: Chính phủ Mông Cổ, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Chính phủ Indonesia, Chương trình JICA Biz.

Thẩm định một số dự án viện trợ khẩn cấp, trong đó có gói hỗ trợ của Hiệp hội Doanh nhân & Đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc và Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), đảm bảo đúng quy định, đáp ứng yêu cầu hỗ trợ kịp thời cho người dân vùng thiên tai.

4.7. Công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường

Công tác vệ sinh môi trường, ngành Y tế cũng đã kịp thời triển khai các biện pháp xử lý môi trường, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân vùng lũ. Trong năm 2025.

Công tác đảm bảo giao thông được chuẩn bị đầy đủ, kỹ càng vật tư, nhân công, máy móc, bố trí tại những vị trí phù hợp để có thể sử dụng hiệu quả,khắc phục hậu quả bão, lũ trong thời gian sớm nhất. Triển khai phương án phòng chống thiên tai và đảm bảo giao thông kịp thời và xử lý nhanh những điểm ách tắc giao thông trên các tuyến quốc lộ, đường tỉnh đáp ứng được yêu cầu và đảm bảo giao thông thông suốt an toàn.

Tình hình an ninh, trật tự được giữ vững, ổn định, lực lượng công an các cấp đã chủ động nắm tình hình, tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn không để các đối tượng lợi dụng thiên tai thực hiện các hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật; không để các thế lực thù địch phản động lợi dụng tình hình thiên tai, bão lũ, dịch bệnh tuyên truyền, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước, tuyên truyền trái phép về tín ngưỡng, tôn giáo, tuyên truyền xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác.

IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Những kết quả đã đạt được

Năm 2025, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự tham gia tích cực của cộng đồng, doanh nghiệp, công tác phòng, chống thiên tai của tỉnh đạt nhiều kết quả, góp phần hạn chế thiệt hại về người và tài sản. Công tác chỉ đạo, điều hành được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm chỉ đạo sát sao; Ban Chỉ huy phòng thủ dân sự tỉnh và các cơ quan chuyên môn chủ động tham mưu, triển khai đồng bộ giải pháp phòng ngừa, ứng phó và khắc phục, nhất là trong các đợt thiên tai lớn. Nội dung phòng, chống thiên tai từng bước được lồng ghép vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án, qua đó góp phần giảm gia tăng rủi ro và thúc đẩy phát triển bền vững.

Đặc biệt, trong đợt thiên tai từ ngày 28/9 đến ngày 06/10/2025 do hoàn lưu bão số 10, ngay khi nhận thông tin thiệt hại, lãnh đạo tỉnh đã trực tiếp kiểm tra hiện trường, chỉ đạo triển khai phương châm “4 tại chỗ”, huy động lực lượng thực hiện cứu hộ, cứu nạn, sơ tán dân, bảo đảm an sinh và triển khai khắc phục khẩn trương. Công tác dự báo, cảnh báo, truyền thông được tăng cường; việc huy động lực lượng và nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ nhà ở, khôi phục sản xuất và sửa chữa hạ tầng được triển khai theo thứ tự ưu tiên, góp phần sớm ổn định đời sống Nhân dân.

2. Tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng, chống thiên tai và bài học kinh nghiệm, nhất là trong chỉ đạo, tổ chức ứng phó với các trận thiên tai lớn

2.1. Tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác chỉ đạo, điều hành phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số hạn chế. Việc nắm bắt, tổng hợp và báo cáo tình hình thiệt hại ban đầu từ cơ sở tại một số thời điểm còn chậm, thông tin chưa đồng bộ, phải rà soát, đối chiếu nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ chỉ đạo, điều hành. Công tác phối hợp giữa các lực lượng trong chỉ huy hiện trường có nơi còn lúng túng; phương án ứng phó theo kịch bản, nhất là đối với các loại hình thiên tai nguy hiểm như lũ quét, sạt lở đất, chưa thật sự chi tiết đến cấp thôn, bản. Việc huy động lực lượng, phương tiện chuyên dụng phục vụ tìm kiếm cứu nạn tại khu vực vùng sâu, vùng xa còn gặp khó khăn; năng lực ứng phó tại chỗ ở một số địa bàn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu khi thiên tai xảy ra trên diện rộng và diễn biến phức tạp.

Công tác bảo đảm an sinh xã hội, khôi phục sản xuất và hạ tầng kỹ thuật sau thiên tai còn gặp nhiều khó khăn. Việc rà soát, xác định đối tượng và mức độ thiệt hại làm căn cứ hỗ trợ ở một số nơi còn kéo dài; hồ sơ phải bổ sung, hoàn thiện nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ chi trả và ổn định đời sống Nhân dân. Nguồn lực hỗ trợ còn hạn chế so với nhu cầu thực tế, nhất là sau các đợt thiên tai lớn; việc cung ứng giống, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật khôi phục sản xuất chưa thật sự kịp thời, một số hạ tầng phục vụ sản xuất bị hư hỏng nhưng chưa được sửa chữa sớm, ảnh hưởng đến hiệu quả phục hồi. Thiệt hại đối với hệ thống hạ tầng giao thông, thủy lợi và công trình dân sinh lớn, phân tán trên diện rộng; trong khi điều kiện địa hình miền núi phức tạp, chi phí cao và thủ tục đầu tư, bố trí vốn còn nhiều bước, dẫn đến tiến độ khắc phục, sửa chữa một số công trình chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn và kỳ vọng của Nhân dân.

2.2. Khó khăn, vướng mắc

Về khách quan, diễn biến thời tiết, thiên tai trong những năm gần đây, đặc biệt trong năm 2025, ngày càng cực đoan, bất thường và khó dự báo, với nhiều hình thái thiên tai nguy hiểm như mưa lớn cường suất cao, lũ quét, sạt lở đất xảy ra trên diện rộng. Đặc thù địa hình tỉnh Lào Cai là tỉnh miền núi cao, bị chia cắt mạnh, nhiều sông suối dốc, khu dân cư phân tán, sinh sống dọc ven sông, suối, taluy dương, taluy âm, làm gia tăng mức độ rủi ro và thiệt hại khi xảy ra thiên tai. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu làm thay đổi quy luật mưa lũ truyền thống, vượt ngoài kịch bản tính toán của nhiều công trình hiện có, gây áp lực lớn đối với công tác chỉ đạo, điều hành và ứng phó.

Về chủ quan, hệ thống công trình phòng, chống lũ, giảm lũ trên các sông suối còn thiếu và chưa đồng bộ; năng lực chống chịu của kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, thủy lợi, công trình dân sinh tại khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn hạn chế. Phương tiện, trang thiết bị chuyên dùng phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn tại một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện địa hình phức tạp, thời tiết bất lợi. Công tác dự báo, cảnh báo, nhất là đối với lũ quét, sạt lở đất vẫn còn hạn chế; việc tổ chức di dời dân cư ra khỏi khu vực có nguy cơ cao gặp khó khăn do tập quán sinh sống lâu đời, hạn chế về quỹ đất tái định cư và nguồn lực hỗ trợ chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Ngoài ra, nguồn lực dành cho công tác phục hồi, tái thiết sau thiên tai còn hạn hẹp so với nhu cầu, ảnh hưởng đến tiến độ khắc phục hậu quả và ổn định lâu dài đời sống, sản xuất của Nhân dân.

2.3. Bài học kinh nghiệm trong chỉ đạo, tổ chức ứng phó với các trận thiên tai lớn

Thứ nhất, qua công tác phòng, chống thiên tai năm 2025 cho thấy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, quyết liệt và sát cơ sở của cấp ủy, chính quyền các cấp là nhân tố then chốt quyết định hiệu quả ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai. Việc chỉ đạo từ sớm, từ xa, bám sát diễn biến thực tế, đặc biệt là sự có mặt trực tiếp của người đứng đầu tại hiện trường trong các tình huống thiên tai lớn đã giúp kịp thời xử lý các tình huống phát sinh, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản.

Thứ hai, việc tổ chức thực hiện nghiêm túc, linh hoạt phương châm “4 tại chỗ” phù hợp với đặc thù địa hình miền núi, chia cắt mạnh của tỉnh Lào Cai đã phát huy hiệu quả trong suốt năm 2025. Trong đó, cấp xã, phường giữ vai trò nòng cốt, là lực lượng trực tiếp, gần dân nhất, kịp thời triển khai các biện pháp ứng phó ban đầu; sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền cơ sở với các lực lượng quân đội, công an đã nâng cao hiệu quả cứu hộ, cứu nạn trong các đợt thiên tai lớn.

Thứ ba, thực tiễn công tác khắc phục hậu quả thiên tai trong năm 2025 cho thấy cần xác định rõ thứ tự ưu tiên trong tổ chức thực hiện. Trước hết là tập trung tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ khẩn cấp, bảo đảm an sinh xã hội, không để người dân bị thiếu đói, không có nơi ở; tiếp đó là vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh, giữ vững an ninh trật tự; sau cùng là từng bước khôi phục sản xuất, ổn định sinh kế và sửa chữa, khôi phục các công trình hạ tầng thiết yếu. Việc tuân thủ đúng trình tự này đã giúp tỉnh từng bước ổn định tình hình sau các đợt thiên tai nghiêm trọng.

Thứ tư, công tác thông tin, tuyên truyền trong năm 2025 cho thấy cần bảo đảm cảnh báo sớm, thông tin kịp thời, chính xác, dễ tiếp cận đến người dân, nhất là tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng có nguy cơ cao. Đồng thời, việc thông tin đầy đủ, minh bạch về chủ trương, chính sách hỗ trợ và tiến độ khắc phục hậu quả, tạo sự đồng thuận xã hội cao và huy động hiệu quả sự hỗ trợ của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Thứ năm, năm 2025 tiếp tục khẳng định yêu cầu phải chủ động đa dạng hóa, lồng ghép và huy động hiệu quả các nguồn lực hợp pháp cho công tác phòng, chống thiên tai và phục hồi, tái thiết sau thiên tai. Việc kết hợp chặt chẽ nguồn ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương với nguồn xã hội hóa; sử dụng nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên cho các địa bàn bị thiệt hại nặng và các nhiệm vụ cấp bách là bài học quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả khắc phục hậu quả thiên tai trong điều kiện thiên tai ngày càng cực đoan, phức tạp.

 

PHẦN THỨ HAI

Phương hướng, nhiệm vụ công tác PCTT-TKCN năm 2026

 

Theo nhận định của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, năm 2026 có khoảng 5-6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên khu vực biển Đông, trong đó có 2-3 cơn bão có khả năng ảnh hưởng đến thời tiết tỉnh Lào Cai có khả năng cao xảy ra hiện tượng mưa cực đoan và xảy ra 25-28 đợt không khí lạnh (kể cả KKL tăng cường). Để chủ động ứng phó với các tình huống thiên tai có thể xảy ra, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản, môi trường, hoạt động phát triển kinh tế xã hội. Tiếp tục phát huy những kết quả, kinh nghiệm đã đạt được trong năm 2025, năm 2026 cần tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chính như sau:

I. NHIỆM VỤ CHUNG

1. Các cấp, các ngành tăng cường tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Luật Phòng chống thiên tai, các Nghị định và các văn bản luật liên quan đến công tác phòng chống thiên tai nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức và mọi người dân.

2. Rà soát, kiện toàn Ban Chỉ huy phòng thủ dân sự các cấp, các ngành theo hướng tinh gọn, rõ trách nhiệm; phân công nhiệm vụ cụ thể đến từng bộ phận, từng thành viên. Căn cứ tình hình thực tế của từng địa phương, đơn vị để rà soát, cập nhật, bổ sung Kế hoạch phòng, chống thiên tai và Phương án ứng phó theo các cấp độ rủi ro thiên tai, bảo đảm sát thực tiễn, khả thi và hiệu quả.

3. Tiếp tục triển khai nghiêm túc, đồng bộ các chỉ đạo của Trung ương; tổ chức thực hiện hiệu quả Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia và Chương trình tổng thể phòng, chống thiên tai quốc gia. Thường xuyên rà soát, cập nhật, bổ sung các kế hoạch, phương án phòng, chống thiên tai phù hợp với tình hình thiên tai ngày càng phức tạp, cực đoan.

4. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kiến thức và kỹ năng phòng, chống thiên tai cho người dân, bảo đảm đa dạng về hình thức, phù hợp với điều kiện vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có sử dụng ngôn ngữ bản địa để thông tin đến được đông đảo Nhân dân. Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác phòng, chống thiên tai, nhất là lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã, nhằm chủ động ứng phó và khắc phục hậu quả ngay từ giờ đầu khi thiên tai xảy ra.

5. Sử dụng tổng hợp, hiệu quả các nguồn lực; tăng cường lồng ghép đa mục tiêu trong thực hiện Chỉ thị số 42/CT-TW, Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư và Nghị quyết số 76/NQ-CP, trong đó ưu tiên đầu tư nâng cao năng lực cho đội ngũ làm công tác phòng, chống thiên tai ở cơ sở; nâng cấp, hiện đại hóa Văn phòng thường trực Ban Chỉ huy phòng thủ dân sự các cấp, bảo đảm hệ thống thông tin, chỉ đạo điều hành thông suốt, liên tục, trực tuyến; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong công tác phòng, chống thiên tai.

6. Kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng kế hoạch thu, chi có hiệu quả Quỹ phòng, chống thiên tai theo quy định tại Nghị định 78/2021/NĐ-CP ngày 01/8/2021 của Chính phủ và Nghị định số 63/2025/NĐ-CP ngày 05/3/2025.

7. Chỉ đạo rà soát, tổ chức hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai bảo đảm đúng đối tượng, đúng mục đích, đúng nguồn kinh phí theo quy định; tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, đáp ứng yêu cầu ổn định đời sống Nhân dân.

8. Tăng cường năng lực công tác dự báo, cảnh báo, thông tin liên lạc, bảo đảm thông tin nhanh, kịp thời, chính xác đến chính quyền cơ sở và người dân. Từng bước đầu tư, bổ sung phương tiện, trang thiết bị phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và ứng phó thiên tai như trạm đo mưa nhân dân, thiết bị đo mực nước, phao cứu sinh, thuyền cứu hộ; thực hiện nghiêm túc chế độ trực ban phòng, chống thiên tai theo quy định.

9. Tổ chức diễn tập phòng thủ dân sự, ứng phó bão, lũ và tìm kiếm cứu nạn theo kế hoạch; kết hợp huấn luyện cứu hộ, cứu nạn cho các lực lượng tham gia, nâng cao khả năng phối hợp, sẵn sàng xử lý các tình huống thiên tai lớn, phức tạp.

10. Tiếp tục đẩy mạnh việc sắp xếp, ổn định dân cư tại các vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, đặc biệt là khu vực có nguy cơ rất cao về lũ quét và sạt lở đất; đồng thời gắn công tác bố trí tái định cư với phát triển sinh kế bền vững, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm, bảo đảm người dân khi đến nơi ở mới có thể sinh sống ổn định, lâu dài, hạn chế tình trạng quay lại hoặc tái lấn chiếm các khu vực nguy hiểm. Song song với đó, tiếp tục đầu tư xây dựng các khu tái định cư tập trung, triển khai xây dựng nhà ở an toàn trước thiên tai tại những khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, lũ và sạt lở đất; gắn với giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, bảo đảm người dân được tiếp cận bình đẳng các dịch vụ xã hội cơ bản, qua đó góp phần giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường và củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh.

11. Tổ chức rà soát, cập nhật và hoàn thiện cơ sở dữ liệu các khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt cục bộ trên địa bàn tỉnh; ưu tiên các khu dân cư ven sông, suối, chân taluy dương, taluy âm, khu vực có tiền sử sạt lở. Trên cơ sở đó, xây dựng danh mục các điểm xung yếu cần theo dõi thường xuyên, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và chủ động sơ tán dân khi có tình huống thiên tai.

12. Tăng cường phối hợp với các cơ quan chuyên môn Trung ương, các viện nghiên cứu, trường đại học để nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ trong dự báo, cảnh báo sớm lũ quét, sạt lở đất phù hợp với điều kiện địa hình phức tạp của tỉnh; từng bước mở rộng thí điểm các mô hình cảnh báo sớm tại cộng đồng, gắn với nâng cao năng lực tiếp nhận, xử lý thông tin của chính quyền cơ sở và người dân.

13. Ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư xử lý các điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm trên các tuyến giao thông huyết mạch, công trình thủy lợi, khu dân cư tập trung; chủ động rà soát, đề xuất danh mục các công trình phòng, chống thiên tai cấp bách để báo cáo Trung ương xem xét hỗ trợ, nhất là đối với các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

14. Tăng cường quản lý trật tự xây dựng, quản lý sử dụng đất tại khu vực ven sông, suối, sườn dốc, taluy; kiểm soát, hạn chế tình trạng lấn chiếm lòng suối, thu hẹp dòng chảy tự nhiên làm gia tăng nguy cơ lũ quét, sạt lở đất; gắn trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong công tác quản lý rủi ro thiên tai ngay từ khâu quy hoạch, xây dựng.

II. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2026

1. Công tác chỉ huy phòng, chống thiên tai ở các ngành, địa phương

- Tổng kết công tác phòng, chống thiên tai xong trong tháng 5/2026. Rà soát, xây dựng Kế hoạch Phòng chống thiên tai giai đoạn 2026-2030 cho phù hợp với tình hình thực tế tại ngành, địa phương mình.

- Chủ động phương án của ngành, địa phương mình; có kế hoạch hỗ trợ, phối hợp với nhau khi cần thiết và tăng cường công tác kiểm tra định kỳ, đột xuất để kịp thời bổ khuyết những thiếu sót.

- Tiếp tục chấn chỉnh làm tốt công tác báo cáo, thống kê, đảm bảo kịp thời chính xác tình hình thiên tai và kết quả khắc phục hậu quả làm cơ sở cho việc đánh giá và đề xuất các biện pháp khắc phục.

- Tăng cường nâng cao chất lượng dự báo mưa, lũ. Phối hợp giữa Đài khí tượng thuỷ văn và cơ quan truyền thông tỉnh để giải quyết tốt việc thông tin, dự báo để thông báo kịp thời tình hình mưa, lũ trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân phòng tránh.

- Tăng cường củng cố, tu bổ, nâng cấp mạng lưới thông tin từ tỉnh đến các huyện, thị đảm bảo truyền tin nhanh nhất hai chiều từ cơ sở lên tỉnh và ngược lại, đảm bảo giữ vững thông tin liên lạc trong mọi tình huống.

- Có kế hoạch bảo vệ các công trình chống lũ, các trạm biến thế, đường dây điện thoại, đường cao thế, hạ thế, bảo vệ trật tự trị an nơi công cộng.

- Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng chống thiên tai, đặc biệt là lũ quét và sạt lở đất trên các phương tiện thông tin đại chúng. Vận động các hộ dân đang ở vùng có nguy cơ cao ảnh hưởng của thiên tai, chuyển đến vị trí an toàn dưới sự trợ giúp của các cấp chính quyền. Nếu xét thấy cần thiết phải cưỡng chế di dời để đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân.

- Tích cực vận động nhân dân thực hiện Luật phòng, chống thiên tai qua đó nâng cao trách nhiệm của toàn dân đối với công tác phòng chống thiên tai.

- Tiếp tục chỉ đạo việc diễn tập phòng thủ dân sự, phòng chống thiên tai, thảm họa, ứng phó lũ ống, lũ quét, sạt lở đất trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2026 nhằm không ngừng nâng cao khả năng, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức hiệp đồng sử dụng phương tiện, lực lượng cho nhiệm vụ phòng chống thiên tai, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra. Chú trọng công tác huấn luyện nâng cao kỹ năng thực hành tìm kiếm cứu nạn cho cán bộ và lực lượng dân quân ở các xã, phường, thị trấn và các đơn vị tự vệ. Tập huấn nâng cao kỹ năng điều khiển các phương tiện (Tàu, xuồng) và kỹ thuật vận hành các trang, thiết bị phục vụ nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn cho lực lượng kiêm nhiệm Tìm kiếm cứu nạn của Bộ đội địa phương và Công an tỉnh.

- Đảm bảo an ninh trật tự vùng bị thiên tai xảy ra, phòng chống các thế lực thù địch lợi dụng thiên tai, lấy danh nghĩa từ thiện để tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp luật và các hoạt động xâm phạm an ninh trật tự; vận động quần chúng nhân dân cảnh giác không để các đối tượng tội phạm lợi dụng thiên tai hoạt động phạm tội và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

- Tổ chức thường trực PCTT với chế độ 24/24h từ ngày 01/4 đến 30/11/2026. Thời gian còn lại tổ chức trực 24/24h vào các ngày thời tiết xấu khi có Công điện của tỉnh. Theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết thông báo kịp thời cho nhân dân phòng tránh. Kiểm tra tình hình thiệt hại, tham gia bàn biện pháp khắc phục hậu quả; đồng thời báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý.

2. Tăng cường quản lý các công trình phòng chống thiên tai

2.1. Với hồ chứa và các công trình xây dựng

- Các công trình giao thông, thuỷ lợi, xây dựng... đang thi công dở dang cần bố trí tiến độ thi công hợp lý, có kế hoạch bảo vệ máy móc, vật tư, thiết bị và con người trong mùa mưa lũ.

- Các công trình đã đi vào khai thác, nhất là hồ chứa nước cần phải được kiểm tra, tu bổ để đảm bảo an toàn hồ chứa và phục vụ nông nghiệp. Đặc biệt đối với các hồ chứa nước lớn như hồ Thác Bà xã Thác Bà, hệ thống hồ Từ Hiếu, Roong Đeng, Tặng An xã Mường Lai, hồ Đầm Hậu phường Âu Lâu, Khe Chinh xã Mậu A, Thác Bạc phường Sa Pa, Vĩ Kẽm xã Bát Xát ..., thì công tác bảo vệ phải được nghiêm ngặt, cần tu bổ, bảo dưỡng máy móc, huấn luyện lực lượng vận hành ở tư thế sẵn sàng tham gia chống lũ. Đồng thời có phương án xử lý sự cố để đảm bảo an toàn công trình, tính mạng, tài sản của nhân dân và của nhà nước ở vùng thượng, hạ du.

- Tổ chức quan trắc, theo dõi chặt chẽ diễn biến khí tượng, thủy văn để chủ động báo cáo, phối hợp với các cơ quan liên quan về công tác vận hành hồ chứa an toàn, hiệu quả; tham gia cắt/giảm/làm chậm lũ, đảm bảo an toàn cho công trình và vùng hạ du” để nâng cao hiệu quả trong việc cảnh báo sớm thiên tai kịp thời xây dựng phương án ứng phó kịp thời.

2.2. Với hệ thống đê, kè trên phạm vi toàn tỉnh

- Phải có kế hoạch quản lý, củng cố và hộ đê. Kiểm tra đánh giá thực trạng an toàn công trình đê, kè trên địa bàn, phát hiện những hư hỏng, các yếu tố bất lợi có nguy cơ đe dọa an toàn đê, kè và có kế hoạch tu sửa, có quy trình vận hành hợp lý.

- Kiện toàn lực lượng quản lý đê, kè nhân dân, chuẩn bị đầy đủ lực lượng, vật tư, phương tiện dự phòng đảm bảo ứng phó ngay khi xảy ra sự cố về công trình đê, kè.

- Tăng cường kiểm tra các tuyến đê, kè kịp thời phát hiện, kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật. Tổ chức phát quang mái đê, kè trong phạm vi bảo vệ để phục vụ công tác tuần tra, canh gác, phát hiện và xử lý sự cố trong mùa mưa lũ.

3. Phòng chống rét đậm, rét hại

- Thường xuyên cập nhật thông tin về diễn biến của rét đậm, rét hại. Tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng tới người dân về diễn biến của thời tiết để chủ động phòng, tránh; hướng dẫn người dân các biện pháp phòng, tránh rét cho người, đặc biệt là người già, trẻ em, người thuộc đối tượng dễ bị tổn thương.

- Chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống rét cho cây trồng như: che, phủ diện tích cây trồng có nguy cơ bị ảnh hưởng do rét hại, băng giá.

- Chủ động dự trữ thức ăn cho vật nuôi và tăng cường khẩu phần ăn đủ dinh dưỡng, đảm bảo sức khoẻ cho vật nuôi để chống rét và dịch bệnh.

- Gia cố, tu sửa, che chắn chuồng trại tránh gió lùa (có thể sử dụng những vật liệu sẵn có tại địa phương làm thành những tấm rèm che xung quanh chuồng); Dự trữ chất đốt để đốt sưởi cho vật nuôi trong những ngày rét đậm, rét hại, sương muối, băng giá.

- Không thả rông vật nuôi trong những ngày nhiệt độ dưới 15oC, đặc biệt khi có sương muối, băng giá thì phải để tan sương hoặc có ánh nắng mặt trời mới cho gia súc ra khỏi chuồng; Đối với những hộ gia đình không có chuồng trại đảm bảo thì cần chủ động di chuyển vật nuôi xuống vùng thấp để tránh rét.

- Xây dựng kế hoạch đảm bảo an toàn giao thông triển khai phương án đối phó với mọi diễn biến của thời tiết, bảo đảm giao thông thông suốt trong mọi tình huống; ở những vị trí xung yếu, tắc đường, huy động tối đa nhân lực, vật tư, thiết bị máy móc để sớm khắc phục thông xe. Thực hiện phương châm 4 tại chỗ tập trung hót dọn băng, tuyết rơi trên các tuyến giao thông để bảo đảm giao thông, khẩn trương khi tan băng, tuyết đến đâu khắc phục sự cố hư hỏng đến đó.

- Các vị trí tắc đường lắp dựng rào chắn, biển báo, phối hợp với đơn vị Thanh tra đường bộ và Chính quyền địa phương tổ chức trực gác và phân luồng giao thông; đồng thời thông báo lên phương tiện thông tin đại chúng.

- Tăng cường công tác y tế dự phòng, chuẩn bị sẵn sàng cơ số thuốc và ứng cứu kịp thời đối với các trường hợp suy giảm sức khỏe do rét. Hướng dẫn chăm sóc sức khỏe đặc biệt cho người già, trẻ em, hộ nghèo, người neo đơn. Đề phòng các bệnh về đường hô hấp, kiên quyết không để dịch bệnh xảy ra.

4. Phòng chống hạn hán

- Theo dõi nắm chắc tình hình thời tiết, khí hậu thuỷ văn để chủ động sẵn sàng đối phó với hạn hán xảy ra.

- Quản lý chặt chẽ nguồn nước của các công trình thuỷ lợi, khẩn trương tiến hành tu sửa,nạo vét toàn bộ tuyến kênh chính, kênh cấp 1, kênh nội đồng, cửa cống đầu kênh, bể hút, bể xả, các trạm bơm điện; chống rò rỉ trên kênh để đảm bảo dòng chảy, hạn chế đến mức thấp nhất rò rỉ, thất thoát trong quá trình dẫn nước.

 - Khẩn trương sửa chữa ngay các hạng mục công trình bị hư hỏng theo phương châm 4 tại chỗ, đảm bảo đưa công trình vào phục vụ sản xuất nông nghiệp ngay từ đầu vụ Hè Thu năm 2026. Đối với các công trình thủy lợi đầu mối là hồ chứa cần dự trữ nước để đảm bảo đủ nước tưới cho sản xuất.

 - Ủy ban nhân dân các xã, phường; các đơn vị quản lý Thủy nông xây dựng kế hoạch dùng nước đảm bảo hợp lý, khoa học. Kế hoạch dùng nước phải đúng lịch gieo cấy và thống nhất thời gian với từng xã, thôn bản. Trong quá trình cấp nước tưới các đơn vị quản lý thủy nông bố trí nhân công, nhân viên quản lý phối hợp với từng địa phương trực tiếp dẫn nước vào các tuyến kênh theo lịch đề ra. Có các biện pháp kiên quyết ngăn ngừa, xử lý việc lãng phí nước, gây ô nhiễm nguồn nước, chủ động các phương án bơm, tát nước khi có hạn xảy ra. Chủ động chuyển đổi cây trồng thích hợp đối với diện tích có khả năng bị hạn.

- Cảnh báo, dự kiến nguy cơ hạn hán, khảo sát, dự kiến khoanh vùng các khu vực trọng điểm, các khu vực có nguy cơ cao, xây dựng kế hoạch và có biện pháp ứng phó chủ động với hạn hán. Chỉ đạo, chỉ huy lực lượng tại chỗ thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng chống hạn.

5. Phòng tránh lũ quét, sạt lở đất

- Trước mắt các địa phương phải tổ chức giải phóng ngay các công trình kiến trúc và các vật cản như tre gỗ... ở tất cả các khe suối trước mùa mưa năm 2026; đặc biệt chú ý các suối ở phường Yên Bái, Ngòi Thia, Ngòi Nhì ở Văn Chấn và Nghĩa Lộ.

- Khai thác quản lý sử dụng có hiệu quả 199 trạm đo mưa ở các xã, phường02 hệ thống cảnh báo sớm sạt lở đất đang thử nghiệm đặt tại xã Mù Cang Chải và xã Hạnh Phúc (xem lượng mưa các tỉnh trên toàn quốc trong đó có tỉnh Lào Cai tải trên trang web: www.vrain.vn;  xem mực nước sông Hồng trên trang web: mucnuoc.vrain.vn (tên đăng nhập: yenbai; Mật khẩu: 123456);

- Trồng rừng và bảo vệ rừng đầu nguồn, quy hoạch việc sử dụng đất, quy hoạch lại các khu dân cư thường xảy ra lũ quét. Thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Chính phủ về phủ xanh đất chống đồi núi trọc;

- Có kế hoạch phối hợp với các cơ quan chức năng, xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ lũ ống, lũ quét, sạt lở đất chi tiết để phục vụ cho Ban chỉ huy phòng thủ dân sự các cấp thuận tiện trong công tác chỉ huy, chỉ đạo và công tác tham mưu quy hoạch xây dựng của địa phương;

- Có kế hoạch dự trữ lương thực, thực phẩm, thuốc men và các nhu yếu phẩm cần thiết tại chỗ; đảm bảo hệ thống thông tin liên lạc cho những vùng thường xảy ra lũ quét, sạt lở đất. Xây dựng kế hoạch di chuyển các hộ dân cư ở những nơi có nguy cơ sạt lở đất và lũ quét.

6. Chuẩn bị ứng phó thiên tai

- Có kế hoạch phòng, chống và di dân ở những vùng thường xuyên bị ngập lụt như các phường: Yên Bái, Nam Cường, xã Trấn Yên và vùng lòng hồ Thác Bà. Không để cho dân ở vùng quá thấp ở ven các sông suối và dưới chân ta luy cao trong phạm vi nguy hiểm.

- Tích cực tu sửa, chằng chống nhà cửa, kho tàng, trường học, trạm xá và các công trình công cộng khác. Không tập kết hàng hoá, vật tư thiết bị ở những khu vực dưới báo động 2 đối với sông Hồng và những nơi thường xuyên xảy ra lũ quét, sạt lở đất.

- Chuẩn bị sẵn sàng lực lượng ứng cứu khi cần thiết. Vận động nhân dân vùng thường bị ngập lụt mua sắm thuyền, bè, mảng..., phục vụ di chuyển nhanh, an toàn khi có tình huống xảy ra. Vận động nhân dân trong mùa mưa bão mỗi gia đình phải phải chuẩn bị được ít nhất 5 ngày lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng tại chỗ.

- Có kế hoạch nhập, dự trữ hàng hóa, nhất là hàng hóa thiết yếu như: lương thực, thực phẩm (mỳ tôm, lương khô, nước uống đóng chai), xăng dầu, vật tư thiết yếu…để vừa đảm bảo lưu thông hàng hóa phục vụ sản xuất, tiêu dùng và vừa hỗ trợ đảm bảo cung cấp cho công tác phòng chống lụt bão trên địa bàn” để đảm bảo ổn định nguồn hàng hóa trong mọi tình huống thiên tai xảy ra.

- Có kế hoạch bảo vệ sức khoẻ con người, gia súc con giống, cây giống... để kịp thời phục hồi sản xuất sau lũ; dự phòng kinh phí và các nguồn lực cần thiết khác để kịp thời tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ khi có thiên tai xảy ra.

Trên đây là Báo cáo tổng kết công tác PCTT-TKCN năm 2025 và phương hướng nhiệm vụ chủ yếu năm 2026 của tỉnh Lào Cai./.



[1] 17 người chết và mất tích, 22 người bị thương; 15.093 nhà ở bị thiệt hại; 8.082,4 ha lúa, ngô, rau màu và cây lâm nghiệp bị thiệt hại hoặc ảnh hưởng. Thiệt hại lớn về chăn nuôi với 140 con gia súc; 1.469 con lợn và 126.558 con gia cầm bị chết, cuốn trôi. Lĩnh vực thủy sản bị thiệt hại 846,15 ha diện tích nuôi trồng do ngập tràn ao. Làm hư hỏng 614 công trình thủy lợi, ảnh hưởng 16 trạm bơm, 53 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung; 79 trường học, điểm trường bị sạt taluy; 17 trạm y tế bị ngập nước, hư hỏng hoặc tốc mái; 812 trạm BTS bị ảnh hưởng; nhiều công trình giao thông và tuyến đường bị sạt lở, hư hỏng nặng.

[2] Chỉ thị số 4/CT-UBND ngày 29/4/2025 của UBND tỉnh Yên Bái (cũ) về việc tăng cường công tác PCTT-TKCN năm 2025 trên địa bàn tỉnh Yên Bái; Chỉ thị số 5/CT-UBND ngày 19/5/2025 của UBND tỉnh Yên Bái (cũ) Về việc tăng cường công tác bảo đảm an toàn công trình đê điều, thủy lợi trong mùa mưa, lũ năm 2025; Chỉ thị số 04/CT-UBND ngày 24/11/2025 của UBND tỉnh Lào Cai về việc triển khai các giải pháp chống hạn hán phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân 2025-2026.

[3] Phòng trực ban được trang bị cơ bản phục vụ điều hành, gồm 10 máy vi tính để bàn, 01 máy in, 01 tivi và 01 điện thoại. Thành viên các đoàn công tác hiện trường được trang bị một số phương tiện bảo hộ thiết yếu như mũ, ủng, áo mưa, áo phao và đèn pin. Hệ thống quan trắc, cảnh báo bước đầu đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành với 199 trạm đo mưa tự động, 20 trạm khí tượng thủy văn, 03 trạm thời tiết tổng hợp, 01 trạm đo mực nước tự động đặt tại phường Yên Bái và 02 hệ thống cảnh báo sớm sạt lở đất đang thử nghiệm tại xã Mù Cang Chải và xã Hạnh Phúc.

[4] UBND tỉnh Yên Bái (cũ) ban hành Kế hoạch số 84/KH-UBND ngày 12/4/2022; UBND tỉnh Lào Cai (cũ) ban hành Kế hoạch số 10/KH-UBND ngày 12/01/2022.

[5] Công văn số 3554/UBND-NLN ngày 21/10/2022.

[6] UBND tỉnh Yên Bái (cũ) ban hành Quyết định số 571/QĐ-UBND ngày 02/4/2021; UBND tỉnh Lào Cai (cũ) ban hành Kế hoạch số 140/KH-UBND ngày 25/3/2021.

[7] UBND tỉnh Yên Bái (cũ) ban hành Kế hoạch số 84/KH-UBND ngày 28/3/2024; UBND tỉnh Lào Cai (cũ) ban hành Kế hoạch số 114/KH-UBND ngày 27/02/2023.

[8] Ngày 06/10/2025, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1349/QĐ-UBND bổ sung dự toán kinh phí hỗ trợ khắc phục khẩn cấp hậu quả do bão số 10 và mưa lũ sau bão (đợt 1) với tổng số tiền 97.592,6 triệu đồng; ngày 31/10/2025, UBND tỉnh có Văn bản số 3557/UBND-VX đề nghị phân bổ kinh phí hỗ trợ làm nhà cho các hộ bị thiệt hại (đợt 1) với tổng kinh phí 10.136 triệu đồng. Đến ngày 25/11/2025, Ban Vận động cứu trợ tỉnh đã tiếp nhận 95,672 tỷ đồng từ 322 tổ chức và 810 cá nhân, đã chi hỗ trợ 19,851 tỷ đồng.

Từ khoá: kỹ năng phòng chống thiên tai
Chia sẻ: f